CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI & DU LỊCH QUỐC TẾ BỐN PHƯƠNG
VPGD: Số 33, Ngách 85 , Ngõ Trung tả, Khâm thiên. Đống Đa, Hà Nội
Tel : (04) 73 00 74 74 / Fax : (04) 73 00 74 92
Email : info@dulichbonphuong.vn
Website: Dulichbonphuong.vn/Xedulich.biz

Hotline : 0942 112 668
Xe Du Lich, Xe Du Lịch – Thuê Xe Du Lịch cung cấp dịch vụ Cho Thuê Xe Du Lịch giá tốt nhất Dịch vụ xe du lịch: Cho thuê xe du lịch đời mới: xe du lịch 4 chỗ, xe du lịch 7 chỗ, xe du lịch 9 chỗ, xe du lịch 16, 25, 45 chỗ. Dịch vụ cho thuê xe du lịch chuyên ... Dịch vụ xe du lịch: Cho thuê xe du lịch đời mới: xe du lịch 4 chỗ, xe du lịch 7 chỗ, xe du lịch 9 chỗ, xe du lịch 16, 25, 45 chỗ. Dịch vụ cho thuê xe du lịch chuyên ... Xe Du Lich, Xe Du Lịch – Thuê Xe Du Lịch cung cấp dịch vụ Cho Thuê Xe Du Lịch giá tốt nhất Xe Du Lich, Xe Du Lịch – Thuê Xe Du Lịch cung cấp dịch vụ Cho Thuê Xe Du Lịch giá tốt nhất Thuê xe du lịch 45 chỗ Thuê xe du lịch 45 chỗ Dịch vụ xe du lịch: Cho thuê xe du lịch đời mới: xe du lịch 4 chỗ, xe du lịch 7 chỗ, xe du lịch 9 chỗ, xe du lịch 16, 25, 45 chỗ. Dịch vụ xe du lịch: Cho thuê xe du lịch đời mới: xe du lịch 4 chỗ, xe du lịch 7 chỗ, xe du lịch 9 chỗ, xe du lịch 16, 25, 45 chỗ. Dịch vụ xe du lịch: Cho thuê xe du lịch đời mới: xe du lịch 4 chỗ, xe du lịch 7 chỗ, xe du lịch 9 chỗ, xe du lịch 16, 25, 45 chỗ. Dịch vụ xe du lịch: Cho thuê xe du lịch đời mới: xe du lịch 4 chỗ, xe du lịch 7 chỗ, xe du lịch 9 chỗ, xe du lịch 16, 25, 45 chỗ. Dịch vụ xe du lịch: Cho thuê xe du lịch đời mới: xe du lịch 4 chỗ, xe du lịch 7 chỗ, xe du lịch 9 chỗ, xe du lịch 16, 25, 45 chỗ. Dịch vụ xe du lịch: Cho thuê xe du lịch đời mới: xe du lịch 4 chỗ, xe du lịch 7 chỗ, xe du lịch 9 chỗ, xe du lịch 16, 25, 45 chỗ.

Liên kết website

Đối tác

dia danh du lich mien bac, địa danh du lịch miền bắc, du lich miền bắc

Ẩm thực Hòa Bình

Ẩm thực Hòa Bình | Dulichbonphuong.Vn
( Dulichbonphuong.vn ) - Trước hết cơm nếp được thay cơm tẻ và được nấu theo cách thức của tổ tiên tộc Mường để lại, đó là cơm lam. Người Mường chọn loại nứa bánh tẻ gọi là "ống chố", loại này to, gióng dài, sợi thớ tươi nên không bị nứt vỡ và cháy khi vùi trong than lửa.

Trước hết cơm nếp được thay cơm tẻ và được nấu theo cách thức của tổ tiên tộc Mường để lại, đó là cơm lam. Người Mường chọn loại nứa bánh tẻ gọi là "ống chố", loại này to, gióng dài, sợi thớ tươi nên không bị nứt vỡ và cháy khi vùi trong than lửa. Dồn gạo vào ống và đổ nước vào ống rồi đem ống cơm này "trồng vào giữa đống than đã cháy đượm". Cơm sôi cạn, lấy lá chuối, lá ngái, lá dong rừng nút chặt miệng ống để giữ hơi và gạt than hồng ra, vùi kín cho đến khi cơm chín. Cơm chín đem chẻ bỏ lớp vỏ ngoài của ống, để lại một lớp vỏ mỏng ở trong, khi thết đãi bạn bè cơm lam được cắt từng khúc khoảng 10-13cm, lúc đó ta bóc lớp vỏ mỏng trên sẽ lộ ra 1 lớp màng mỏng như chiếc áo lụa mịn màng bao bọc lấy miếng cơm nếp lam thơm ngon, có một chút màu xanh lam, màu của lá rừng thấm vào cơm, hấp dẫn lạ thường. Chính vì thế người Mường mới đặt tên cơm là cơm lam.

Hương vị cơm lam hơn hẳn cơm nếp nấu hoặc xôi trong chõ hoặc nồi. Cơm lam còn được bà con dùng để cúng thần rừng cầu mong mọi sự tốt lành; khúc cơm lam, quả trứng luộc nhuộm đỏ còn dùng để cúng vía cho trẻ nhỏ.

Đã có cơm lam trong mâm thì phải có món cá nướng, cá muối. Cá nướng phải là cá đánh bắt từ suối, loại cá to. Mổ lưng cá, hai mảnh quặt về phía sau, ướp tẩm gia vị rồi mới nướng. Riêng cá muối thì đặc biệt hơn, cá làm sạch bỏ ruột, phơi cho ráo nước, lấy cây luồng bánh tẻ cưa thành từng ống, mỗi ống giữ một đầu mắt ở gốc, cứ một lượt cá thì lại rắc một lần muối với thính gạo, rồi nén chặt, sau đó lót một lượt lá "dầu cọc rào" trên miệng, dùng thanh nan gài chặt, xong xuôi đem các ống cá này vùi trong tro bếp, kín như vùi khoai, vùi sắn nướng, nhiệt độ âm ỉ của bếp dần dần làm cá chín và ngấm muối, ngấm thính nhưng không bị nát. 3 tháng là lấy ra ăn được. Nhiều nhà rất kỳ công làm mỗi loại cá vài ống rồi đánh dấu để dễ nhận ra ống cá cơm, ống cá xỉnh, cá chép, cá trôi v.v..

Món cá muối thính này thường ăn sống kèm với các loại rau như: sung, đinh lăng, lá ổi, mùi tàu, hành, ớt, sả, tỏi... Cá muối ăn với cơm lam rất tuyệt, mở nắp ống cá là mùi thơm tỏa ra gây cảm giác bụng sôi lên. Phiến cá dai, đậm ngọt cùng với cơm lam quánh dẻo, thêm chút rau sống chắc ai đã một lần thưởng thức sẽ không bao giờ quên.

Bữa cơm sẽ mất ngon nếu thiếu bát canh đặc sản. Đó là canh da trâu với món rau rừng. Da trâu rửa sạch, gác lên bếp lâu ngày lấy xuống đốt trực tiếp trên ngọn lửa, sau đó cạo sạch, miếng da vàng rôm được chặt nhỏ, món rau mọc ở bờ suối đem về cắt khúc, hai thứ cùng cho vào nồi nước ninh đến khi chín nhừ. Canh nấu không có gì khó nhưng nấu không biết nấu thì sẽ không ngon mà còn bị ngứa. Bí quyết ở đây là không cho muối vào trước và không được đảo, chỉ đến khi bắc canh xuống người ta mới cho muối, mắm và các loại gia vị như hạt sẻn rừng, rau răm, ớt, sả, gừng, các loại rau thơm khác, lúc này bát canh tỏa hương ngào ngạt, mùi vị đặc trưng khác hẳn với các món trong mâm. Canh da trâu với món rau rừng không phải lúc nào cũng được chế biến. Nó thường đi cùng với cơm lam cá muối hoặc cá nướng.

Với người Mường thì những món ăn kể trên không chỉ đáp ứng nhu cầu ngon miệng, no bụng mà còn là "thông điệp" về mặt tình nghĩa xóm làng, quan hệ ứng xử giữa con người với nhau trong cộng đồng. Việc này cũng trở nên ý nghĩa, vừa trang trọng, vừa thiêng liêng, tạo thêm phong vị ẩm thực độc đáo của bà con xứ Mường.


Trước hết cơm nếp được thay cơm tẻ và được nấu theo cách thức của tổ tiên tộc Mường để lại, đó là cơm lam. Người Mường chọn loại nứa bánh tẻ gọi là "ống chố", loại này to, gióng dài, sợi thớ tươi nên không bị nứt vỡ và cháy khi vùi trong than lửa. Dồn gạo vào ống và đổ nước vào ống rồi đem ống cơm này "trồng vào giữa đống than đã cháy đượm". Cơm sôi cạn, lấy lá chuối, lá ngái, lá dong rừng nút chặt miệng ống để giữ hơi và gạt than hồng ra, vùi kín cho đến khi cơm chín. Cơm chín đem chẻ bỏ lớp vỏ ngoài của ống, để lại một lớp vỏ mỏng ở trong, khi thết đãi bạn bè cơm lam được cắt từng khúc khoảng 10-13cm, lúc đó ta bóc lớp vỏ mỏng trên sẽ lộ ra 1 lớp màng mỏng như chiếc áo lụa mịn màng bao bọc lấy miếng cơm nếp lam thơm ngon, có một chút màu xanh lam, màu của lá rừng thấm vào cơm, hấp dẫn lạ thường. Chính vì thế người Mường mới đặt tên cơm là cơm lam.

Hương vị cơm lam hơn hẳn cơm nếp nấu hoặc xôi trong chõ hoặc nồi. Cơm lam còn được bà con dùng để cúng thần rừng cầu mong mọi sự tốt lành; khúc cơm lam, quả trứng luộc nhuộm đỏ còn dùng để cúng vía cho trẻ nhỏ.

Đã có cơm lam trong mâm thì phải có món cá nướng, cá muối. Cá nướng phải là cá đánh bắt từ suối, loại cá to. Mổ lưng cá, hai mảnh quặt về phía sau, ướp tẩm gia vị rồi mới nướng. Riêng cá muối thì đặc biệt hơn, cá làm sạch bỏ ruột, phơi cho ráo nước, lấy cây luồng bánh tẻ cưa thành từng ống, mỗi ống giữ một đầu mắt ở gốc, cứ một lượt cá thì lại rắc một lần muối với thính gạo, rồi nén chặt, sau đó lót một lượt lá "dầu cọc rào" trên miệng, dùng thanh nan gài chặt, xong xuôi đem các ống cá này vùi trong tro bếp, kín như vùi khoai, vùi sắn nướng, nhiệt độ âm ỉ của bếp dần dần làm cá chín và ngấm muối, ngấm thính nhưng không bị nát. 3 tháng là lấy ra ăn được. Nhiều nhà rất kỳ công làm mỗi loại cá vài ống rồi đánh dấu để dễ nhận ra ống cá cơm, ống cá xỉnh, cá chép, cá trôi v.v..

Món cá muối thính này thường ăn sống kèm với các loại rau như: sung, đinh lăng, lá ổi, mùi tàu, hành, ớt, sả, tỏi... Cá muối ăn với cơm lam rất tuyệt, mở nắp ống cá là mùi thơm tỏa ra gây cảm giác bụng sôi lên. Phiến cá dai, đậm ngọt cùng với cơm lam quánh dẻo, thêm chút rau sống chắc ai đã một lần thưởng thức sẽ không bao giờ quên.

Bữa cơm sẽ mất ngon nếu thiếu bát canh đặc sản. Đó là canh da trâu với món rau rừng. Da trâu rửa sạch, gác lên bếp lâu ngày lấy xuống đốt trực tiếp trên ngọn lửa, sau đó cạo sạch, miếng da vàng rôm được chặt nhỏ, món rau mọc ở bờ suối đem về cắt khúc, hai thứ cùng cho vào nồi nước ninh đến khi chín nhừ. Canh nấu không có gì khó nhưng nấu không biết nấu thì sẽ không ngon mà còn bị ngứa. Bí quyết ở đây là không cho muối vào trước và không được đảo, chỉ đến khi bắc canh xuống người ta mới cho muối, mắm và các loại gia vị như hạt sẻn rừng, rau răm, ớt, sả, gừng, các loại rau thơm khác, lúc này bát canh tỏa hương ngào ngạt, mùi vị đặc trưng khác hẳn với các món trong mâm. Canh da trâu với món rau rừng không phải lúc nào cũng được chế biến. Nó thường đi cùng với cơm lam cá muối hoặc cá nướng.

Với người Mường thì những món ăn kể trên không chỉ đáp ứng nhu cầu ngon miệng, no bụng mà còn là "thông điệp" về mặt tình nghĩa xóm làng, quan hệ ứng xử giữa con người với nhau trong cộng đồng. Việc này cũng trở nên ý nghĩa, vừa trang trọng, vừa thiêng liêng, tạo thêm phong vị ẩm thực độc đáo của bà con xứ Mường.


Trước hết cơm nếp được thay cơm tẻ và được nấu theo cách thức của tổ tiên tộc Mường để lại, đó là cơm lam. Người Mường chọn loại nứa bánh tẻ gọi là "ống chố", loại này to, gióng dài, sợi thớ tươi nên không bị nứt vỡ và cháy khi vùi trong than lửa. Dồn gạo vào ống và đổ nước vào ống rồi đem ống cơm này "trồng vào giữa đống than đã cháy đượm". Cơm sôi cạn, lấy lá chuối, lá ngái, lá dong rừng nút chặt miệng ống để giữ hơi và gạt than hồng ra, vùi kín cho đến khi cơm chín. Cơm chín đem chẻ bỏ lớp vỏ ngoài của ống, để lại một lớp vỏ mỏng ở trong, khi thết đãi bạn bè cơm lam được cắt từng khúc khoảng 10-13cm, lúc đó ta bóc lớp vỏ mỏng trên sẽ lộ ra 1 lớp màng mỏng như chiếc áo lụa mịn màng bao bọc lấy miếng cơm nếp lam thơm ngon, có một chút màu xanh lam, màu của lá rừng thấm vào cơm, hấp dẫn lạ thường. Chính vì thế người Mường mới đặt tên cơm là cơm lam.

Hương vị cơm lam hơn hẳn cơm nếp nấu hoặc xôi trong chõ hoặc nồi. Cơm lam còn được bà con dùng để cúng thần rừng cầu mong mọi sự tốt lành; khúc cơm lam, quả trứng luộc nhuộm đỏ còn dùng để cúng vía cho trẻ nhỏ.

Đã có cơm lam trong mâm thì phải có món cá nướng, cá muối. Cá nướng phải là cá đánh bắt từ suối, loại cá to. Mổ lưng cá, hai mảnh quặt về phía sau, ướp tẩm gia vị rồi mới nướng. Riêng cá muối thì đặc biệt hơn, cá làm sạch bỏ ruột, phơi cho ráo nước, lấy cây luồng bánh tẻ cưa thành từng ống, mỗi ống giữ một đầu mắt ở gốc, cứ một lượt cá thì lại rắc một lần muối với thính gạo, rồi nén chặt, sau đó lót một lượt lá "dầu cọc rào" trên miệng, dùng thanh nan gài chặt, xong xuôi đem các ống cá này vùi trong tro bếp, kín như vùi khoai, vùi sắn nướng, nhiệt độ âm ỉ của bếp dần dần làm cá chín và ngấm muối, ngấm thính nhưng không bị nát. 3 tháng là lấy ra ăn được. Nhiều nhà rất kỳ công làm mỗi loại cá vài ống rồi đánh dấu để dễ nhận ra ống cá cơm, ống cá xỉnh, cá chép, cá trôi v.v..

Món cá muối thính này thường ăn sống kèm với các loại rau như: sung, đinh lăng, lá ổi, mùi tàu, hành, ớt, sả, tỏi... Cá muối ăn với cơm lam rất tuyệt, mở nắp ống cá là mùi thơm tỏa ra gây cảm giác bụng sôi lên. Phiến cá dai, đậm ngọt cùng với cơm lam quánh dẻo, thêm chút rau sống chắc ai đã một lần thưởng thức sẽ không bao giờ quên.

Bữa cơm sẽ mất ngon nếu thiếu bát canh đặc sản. Đó là canh da trâu với món rau rừng. Da trâu rửa sạch, gác lên bếp lâu ngày lấy xuống đốt trực tiếp trên ngọn lửa, sau đó cạo sạch, miếng da vàng rôm được chặt nhỏ, món rau mọc ở bờ suối đem về cắt khúc, hai thứ cùng cho vào nồi nước ninh đến khi chín nhừ. Canh nấu không có gì khó nhưng nấu không biết nấu thì sẽ không ngon mà còn bị ngứa. Bí quyết ở đây là không cho muối vào trước và không được đảo, chỉ đến khi bắc canh xuống người ta mới cho muối, mắm và các loại gia vị như hạt sẻn rừng, rau răm, ớt, sả, gừng, các loại rau thơm khác, lúc này bát canh tỏa hương ngào ngạt, mùi vị đặc trưng khác hẳn với các món trong mâm. Canh da trâu với món rau rừng không phải lúc nào cũng được chế biến. Nó thường đi cùng với cơm lam cá muối hoặc cá nướng.

Với người Mường thì những món ăn kể trên không chỉ đáp ứng nhu cầu ngon miệng, no bụng mà còn là "thông điệp" về mặt tình nghĩa xóm làng, quan hệ ứng xử giữa con người với nhau trong cộng đồng. Việc này cũng trở nên ý nghĩa, vừa trang trọng, vừa thiêng liêng, tạo thêm phong vị ẩm thực độc đáo của bà con xứ Mường.


Các Miền bắc khác